Sunday, February 07, 2010

 

Linh mục Nguyễn Văn Lý Tù nhân và bệnh nhân bất khuất (2)

Bản tin ngày 06-02-2010

Sáng thứ 2 ngày mồng 1-2-2010, tại trại tù K1 Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam, linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý đã được bà Nguyễn Thị Hiểu (chị), anh Nguyễn Công Hoàng (cháu) từ Quảng Biên, Đồng Nai và ông Minh (em họ), từ Huế, Thừa Thiên, đến thăm viếng.

Cả ba tới trại lúc 8g sáng. Sau khi làm thủ tục xuất trình giấy tờ cần thiết, họ được cho vào phòng khách để chờ và chuẩn bị quà gởi. Đúng 9g, ông trung tá tên Nam (người đặc trách linh mục Lý từ bao năm nay) ra đưa họ vào thăm cha thay vì dẫn cha ra gặp họ (vì cha đang trong tình trạng bại liệt nửa người, khó di chuyển). Đi vào sâu trong trại khoảng 400m, cả đoàn đến một căn phòng được dùng để họp, khá rộng, có nhiều ghế xếp gọn.

Bước vào phòng, họ thấy linh mục Lý đã ngồi sẵn ở bàn, trên người mang áo sơ mi màu xám tro chứ không mang áo tù sọc dưa như các lần trước. Đúng như lời cha Lý nói với anh Hoàng khi còn ở bệnh viện công an tại Hà Nội hôm thượng tuần tháng 12-2009: “Về trại, chú nhất định sẽ không mang áo tù nữa. Nếu gia đình đến thăm mà trại bắt mang áo tù thì chú sẽ không ra gặp. Chú chỉ ra gặp khi chẳng mặc áo tù. Nếu gia đình thấy chú không ra thì tất đã hiểu!”. Linh mục Lý đứng lên ôm chầm lấy từng người mà khóc trong nỗi xúc động. Đoạn cả 3 ngồi đối diện với cha để nói chuyện. Sát cạnh cha là ông Nam và nơi một bàn xa hơn, có một anh công an trẻ ngồi lắng nghe và quan sát. Vào chuyện, linh mục Lý cho biết:

1/ Về tình trạng sức khỏe : Tay và chân phải vẫn liệt, chẳng tiến triển khả quan hơn. Cha đã khước từ sự điều trị chăm sóc của y bác sĩ tại trại trên 10 ngày rồi, và trong thời gian đó cũng hết thuốc do gia đình gởi. Hai ngày đầu họ có lập biên bản về sự khước từ điều trị của cha, mấy ngày sau thì không thấy họ đến lập biên bản nữa. Trước đó, trong trại có đưa cha đi xuống bệnh viện thị xã Phủ Lý để khám tổng quát, làm các xét nghiệm, chụp X quang và chụp cắt lớp (CT scan: computerized tomography). Cha cho biết họ làm khá kỹ, nhưng quên thăm khám 2 động mạch cảnh mà hôm ở bệnh viện 19.8 tại Hà Nội, bác sĩ đã kết luận là bị xơ vữa.

2/ Về thái độ ứng xử: Linh mục Lý đang suy nghĩ và cầu nguyện để xem nếu Chúa muốn, thì thời gian tới cha sẽ tuyệt thực vô thời hạn để áp lực với trung ương (Hà Nội) về trường hợp của mình. Bởi lẽ vấn đề của cha không phải do trại tù mà là do trung ương quyết định. Nếu khi cha tuyệt thực, trại đưa đi bệnh viện cấp cứu thì cha sẽ không đi. Nếu hôn mê mà họ tiếp nước biển thì khi tỉnh lại, cha sẽ giựt rút kim truyền dịch ra... Xin nhắc lại là khi linh mục Lý còn ở bệnh viện công an Hà Nội (từ 15-11 đến 11-12-2009), chính nhà cầm quyền CS đã đề nghị gia đình làm giấy xin đưa cha về tòa TGM Huế để chữa bệnh và gia đình đã làm nhưng rồi, nhưng vì yêu cầu chứ chẳng xin xỏ nên CS đã không giải quyết!

3/ Về vụ án 4 nhà dân chủ bị gán tội "âm mưu lật đổ chính quyền" hôm 20-01-2010 : Linh mục Lý nhận định: làm gì mà họ âm mưu lật đổ trong bạo loạn! Họ đã chỉ muốn lên tiếng kêu gọi chuyển hóa chế độ độc tài độc đảng thành đa đảng đa nguyên, để đất nước tiến bộ hơn, dân tình hạnh phúc tự do hơn. Rồi linh mục Lý nói tiếp: “Như các nhà dân chủ yêu nước đó, tôi cũng đã chỉ muốn đóng vai trò ngôn sứ, vạch trần những sai lầm và tội ác do chế độ gây ra để thức tỉnh lương tâm nơi những con người nắm quyền... hầu họ nhìn thấy sự thật mà cải đổi, mà đổi mới như họ vẫn kêu gọi. Các cán bộ ở trại này đều biết việc tôi đã làm. Tự trong lương tâm, họ đều cho là đúng, nhưng vì hoàn cảnh, họ không dám công khai nói lên sự thật như vậy…”. Đột nhiên linh mục Lý chỉ hình Hồ Chí Minh treo trên vách rồi bình thản nhận định: “Chính ông đó là kẻ gian dối, lừa bịp hầu như cả dân tộc và cả thế giới… Ông ta là mấu chốt, là nguyên ủy của mọi vấn đề tại Việt Nam hôm nay. Phải phơi bày bộ mặt, làm rõ chân tướng của tay "đại gian ác siêu cao thủ bịp bợm này" (thành ngữ cha Lý xưa nay hay dùng) thì mới giải quyết vấn đề cách tận căn được! Ở hải ngoại cũng như ở quốc nội, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đưa ra ánh sáng nhiều vấn đề của ông, như học giả Minh Võ, nhà văn Vũ Thư Hiên và mới đây là cuốn phim của cha Nguyễn Hữu Lễ.... Nhiều đảng viên đã biết phần nào sự thật về ông Hồ, nhưng họ phải im lặng, chứ lương tâm họ cũng bứt rứt lắm!” Hai cán bộ công an ngồi im không phản ứng gì. Xin nhắc lại là khi còn ở bệnh viện, linh mục Lý từng tâm sự với thân nhân là cha mong ước có ai đó ở nước ngoài trình luận văn tiến sĩ về ông Hồ để vạch trần thật rõ bộ mặt của ông cho toàn thế giới biết, nhất là cho giới trí thức.

4/ Về vụ Đồng Chiêm : Ngày 18-01 vừa qua, cha Lý đã tuyệt thực để hiệp thông cầu nguyện cho linh mục quản xứ và giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm. Cha cho rằng không bao giờ có linh mục nào lại có đầu óc "bã đậu" đến độ tự dưng dựng cây Thánh giá trên đất không phải là của mình. Cha còn cho biết chính mình cũng đã gặp mấy trường hợp tương tự.

5/ Về giấy thông báo của trại bình xét “quá trình học tập cải tạo” của cha: Họ muốn phê phán tệ, xấu, kém gì thì mặc kệ họ, cha không bận tâm và gia đình cũng chẳng nên để ý làm gì cho mệt. Đó chỉ là trò hề! Được Cộng sản khen mới đáng xấu hổ. Gia đình chỉ có 2 việc cần làm: mỗi tháng gởi quà và thuốc cho cha 1 lần và mỗi tháng rưỡi cố gắng sắp xếp đi thăm, để có tin tức về bệnh tình cha.

Hiện nay, dù Linh mục Lý tiếp tục bị biệt giam, nhưng có thêm 3 người bị giam chung khu vực, ban ngày được qua lại với cha để trò chuyện, hoặc giúp đỡ Cha khi cần.

Xin Đồng bào tiếp tục cầu nguyện cho vị tù nhân được hồi phục sức khỏe và được kiên vững tinh thần, nhất là tìm mọi cách để linh mục Lý thoát khỏi lao tù Cộng sản.

Viết theo lời kể của thân nhân linh mục Lý.

Việt Nam, 15g00 ngày 06-02-2010
Nhóm Phóng viên FNA (Free News Agency) Khối 8406.


Sức khoẻ và tinh thần của Lm Nguyễn Văn Lý
bị sa sút trầm trọng
Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam (CRFV)


------------------------------------------------------------------------------------



(Xin gởi kèm bản tin)

Washington ngày 5 tháng 2, 2010

Xin mọi người góp lời cầu nguyện cho Lm Nguyễn Văn Lý vì chưa lúc nào sức khoẻ và tinh thần của ngài bị sa sút trầm trọng như hiện nay.

Ngày 1 tháng 2, 2010, ba thành viên trong gia đình Lm Lý gồm người chị (cô Hiểu), người cháu (anh Hoàng), và một người em họ tại Huế đã đến trại tù Ba Sao thăm Cha.

Trong hơn một giờ thăm viếng, bầu không khí vô cùng ảm đạm, khi đây là lần đầu tiên trong hơn 15 năm tù tội, Cha Lý đã ôm từng người, khóc thành tiếng. Những giọt nước mắt của Cha làm đau lòng tất cả mọi người.

Cha không nói tại sao Cha khóc, có thể Cha thương gia đình phải lặn lội thăm Cha hay lo lắng cho an ninh của gia đình. Tình trạng sức khoẻ của ngài rất đáng quan ngại. Cha không thể tự đi một mình. Chân phải của Cha không cử động theo ý muốn. Tay phải cũng bị tê liệt không thể viết hay cử động được.

Tháng trước Lm Lý đã tuyệt thực hai ngày và chay tịnh một ngày để thông công với giáo xứ Đồng Chiêm.

Từ ngày bị trả lại trại tù, Lm Lý từ chối mọi sự điều trị từ các bác sĩ của trại giam và chỉ uống thuốc của gia đình đưa vào. Cha cũng tuyên bố, nếu bệnh tai biến mạch máu não hoặc một bệnh hiểm nguy nào tái phát, Cha đòi hỏi trại tù vẫn để Cha tại trại giam và không được đưa Cha ra bất cứ một bệnh viện nào.

Tháng trước Lm Lý đã dùng tay trái viết cho gia đình một lá thư. Nhưng cán bộ tù đã không gửi lá thư này cho gia đình. Vì vậy Cha yêu cầu gia đình đến thăm nuôi Cha thường xuyên hơn thay vì hai hay ba tháng một lần như trước đây.

Lm Nguyễn Văn Lý vẫn còn bị biệt giam. Nhưng cai tù cho 3 tù nhân ở các phòng gần phòng Lm Lý, để các tù nhân này thỉnh thoảng đến nói chuyện với Cha, hoặc giúp đỡ Cha trong vấn đề vệ sinh hay ăn uống.

Nếu Lm Lý vẫn còn bị nhốt trong tình trạng sức khoẻ và tinh thần như thế này thì không biết sự gì sẽ xảy ra cho Cha vào những ngày mùa đông rét lạnh này.

Lm Nguyễn Văn Lý kêu gọi mọi người cầu nguyện và hiệp thông với giáo dân Đồng Chiêm. Nhưng Cha quên xin mọi người cầu nguyện cho mình.

Trân trong kính báo
Ngô Thị Hiền

Friday, February 05, 2010

 

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

Khối 8406

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
Web: http: //khoi8406vn. blogspot. com/
Email: vanphong8406@gmail. com


Kháng thư 30
về những hành động “ác với dân, hèn với giặc”
của Việt Cộng

Trong những ngày gần đây, NCQ Việt Cộng đã tự biểu lộ rõ rệt bản chất “ác với dân, hèn với giặc” qua những vi phạm nhân quyền trầm trọng đối với người dân và việc thụ động không phản ứng phù hợp trước những hành vi và lời nói công khai mang tính bá quyền của Trung Cộng đối với Việt Nam.

I- NHỮNG HÀNH ĐỘNG “ÁC VỚI DÂN”

1/ Đàn áp các nhà đối kháng.

a) Hai vụ xử sơ thẩm, theo Điều 79 của Bộ luật hình sự:

- Vào ngày 28-12-2009, tại tòa án Thái Bình, NCQ Việt Cộng đã kết án ông Trần Anh Kim, thành viên Ban điều hành Khối 8406 “Tội họat động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo Điều 79 bộ Luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam, với mức phạt 5 năm rưỡi tù giam và 3 năm quản chế.

- Hơn 3 tuần sau, ngày 20-1-2010, tại tòa án thành phố Sài Gòn, họ lại đem 4 người khác là các ông: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long và Nguyễn Tiến Trung ra xét xử sơ thẩm và kết án cùng “tội danh”, với tổng mức án phạt là 33 năm tù giam và 14 năm quản chế.

b) Hai vụ xử phúc thẩm, theo Điều 88 của Bộ luật hình sự:

- Trong 2 ngày, 18 và 21-1-2010 tại Hà Nội và Hải Phòng, NCQ Việt Cộng lại đưa 9 thành viên của Khối 8406 ra xét xử phúc thẩm, gồm các ông: Phạm Văn Trội, Trần Đức Thạch, Vũ Văn Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Ngô Quỳnh, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc và Nguyễn Kim Nhàn. Kết quả 2 vụ xử này là vẫn y án sơ thẩm trước đó, với cùng “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”, theo Điều 88 của bộ Luật Hình sự nước CHXHCNVN. Tổng mức án phạt là 32 năm tù giam và hàng chục năm quản chế. Như vậy, nếu tính chung án phạt của 14 nhà đấu tranh dân chủ trên là 70,5 năm tù giam và nhiều chục năm quản chế.

Các vụ xét xử nói trên cho thấy thái độ bất khoan nhượng của nhà cầm quyền Việt Nam trước các quan điểm chính trị đối kháng, nhất là trong thời gian trước khi diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 11. Bằng việc kết tội các nhà đấu tranh dân chủ, CSVN ngày càng tỏ ra thù nghịch với quyền tự do bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa.

Trong các phiên tòa, việc xét xử chỉ là một hình thức giả trá để hợp pháp hóa một bản án đã được Bộ chính trị định sẵn. Do đó, tiếng nói của các luật sư hay của các bị cáo dù hợp lý đến đâu cũng chẳng thay đổi được kết cục. Chính vì tính giả tạo, vô luật và phi nhân của các vụ án mà CSVN hết sức hạn chế số người bên ngoài vào tham dự khiến các phiên tòa đều thiếu tính công minh. Công an đã dùng những biện pháp mờ ám như hăm doạ, phong tỏa, ép buộc tới đồn “làm việc” để cản trở thân nhân bằng hữu của bị cáo đến tham dự phiên tòa. Nếu họ có phép vào thì cũng chỉ được một người lại còn bị kềm chế. Phòng xử thì chật ních người của nhà nước để chẳng còn chỗ cho phóng viên quốc tế và các nhà ngoại giao. Những người này nếu được vào thì cũng bị cấm sử dụng máy ghi âm và máy vi tính, lại còn phải ngồi trong phòng cách ly, theo dõi mọi sự trên màn ảnh truyền hình. Bên ngoài tòa án, nhân viên an ninh được tăng cường đông đảo cách bất thường để ngăn cản và hăm dọa kẻ muốn vào tham dự. Các phiên tòa đều diễn tiến một cách vội vã, lố bịch và phán quyết một cách bất công, do đó đã gây phản ứng mạnh từ các tổ chức nhân quyền và chính phủ các nước.

c) Những vụ sách nhiễu các nhà đấu tranh dân chủ khác

− Bà Dương Thị Tân, vợ của nhà dân báo Điếu Cày: Vào ngày 23-12-2009, bà bị công an mời ra phường làm việc. Trong tháng 12, bà bị kiểm điểm 3 lần dưới hình thức đấu tố tại địa phương. Suốt nửa năm qua, tháng nào bà cũng bị kiểm điểm. (*1)

− Anh Nguyễn Đăng Cao Đại: Vào cuối tháng 12-2009, anh đã bị công an thẩm vấn nhiều lần tại đồn Phú Nhuận, chỉ vì đã viết bài “Một số cảm nhận về hai chữ dân chủ”, đã gặp một số các nhà đối kháng Hà Nội và Sài Gòn, đã gia nhập Khối 8406… (*2)

− Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và nhà văn Phạm Toàn: Tại Hà Nội, sáng 13-01, công an đã mời Gs Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người khởi xướng bản Kiến nghị phản đối NCQ khai thác bauxite Tây Nguyên và chủ trương mạng “Bauxite Việt Nam”, đến trụ sở công an thẩm vấn. Tiếp đến họ đã tới khám nhà, lấy đi ổ cứng máy vi tính và một số tài liệu. Sau đó ông đã bị mời “làm việc” liên tục mỗi ngày cho đến 22-01. Nhà văn Phạm Toàn, người đồng khởi xướng kiến nghị nói trên, cũng bị công an mời “làm việc” vào ngày 15/01. (*3)

− Kỹ sư Đỗ Nam Hải: Sáng ngày 20-01, đúng hôm 4 thành viên đảng Dân chủ nói trên bị xét xử, công an đã bắt kỹ sư Hải về đồn giam giữ tới tối, để anh không thể đến tham dự phiên tòa lẫn gặp gỡ chính giới hoặc báo giới quốc tế đang có mặt để theo dõi vụ xử. Hôm sau, họ lại xông vào nhà anh, phá khóa phòng, lấy đi máy móc và tài liệu. Đây là lần thứ 9 anh bị cướp trắng phương tiện làm việc.

− Anh Nguyễn Bá Đăng: Nhà đấu tranh dân chủ tỉnh Hải Dương này, vào ngày 22-01, đã bị gần 30 công an ập vào, nhà tịch thu máy tính và bắt giam giữ đến nay chưa thả.

d) Tấn công các trang mạng “phản động”: Một số trang mạng trong lẫn ngoài nước cất lên tiếng nói trung thực về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam như Talawas (http://www.talawas.de/), Bauxite Việt Nam (http://bauxitevietnam.info) đã bị phá sập không sử dụng được nữa. Hai trang X-cafe và Dân luận cũng bị tin tặc tấn công dẫn tới tê liệt hoạt động từ hôm thứ Tư 20/01, trùng với ngày xử án 4 thành viên đảng Dân Chủ.

2/ Đàn áp tôn giáo

− Vụ hạ tượng Đức Mẹ tại giáo xứ Chày (tỉnh Quảng Bình): Ngày 5-11-2009, CSVN đã đem dụng cụ để hạ bức tượng Đức Mẹ đã được giáo dân giáo xứ này dựng lên trên đỉnh lèn xã Phúc Trạch cách đây một năm rưỡi (ngày 4-3-2008). Sau khi tự tiện phá sập thánh tượng, ngày 11-01-2010, họ còn đã gửi văn thư đòi giáo xứ phải trả chi phí tháo dỡ tương đương gần 15.000 mỹ kim. (*4)

− Vụ tước đoạt Thánh thất PGHH tại Định Quán (tỉnh Đồng Nai): Ngày 26 và 27-12-2009 tại Thánh thất Định Quán, nhiều thành viên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bị đã bị các thành viên Hội Đồng Chưởng Quản là phe được nhà nước Việt Cộng bảo hộ tấn công, đánh đập với sự hỗ trợ của xã hội đen, công an, bộ đội và một số viên chức. Được kêu cứu, NCQ địa phương đã làm ngơ không can thiệp, còn cho đó là tranh chấp nội bộ. Nay thì Thánh thất đã bị phe Hội Đồng Chưởng Quản chiếm giữ. (*5)

− Vụ xóa sổ tăng thân Làng Mai (tại tỉnh Lâm Đồng): Tháng 9-2009, khoảng 400 tăng ni theo pháp môn Làng Mai đã phải rời khỏi tu viện Bát Nhã sau nhiều tuần bị tín đồ Phật giáo quốc doanh cùng côn đồ vô lại quấy rối, đánh đập trước sự dửng dưng chứng kiến của công an CS, lấy cớ đây là chuyện tranh chấp nội bộ Phật giáo. Gần 200 tăng ni sau đó phải vào chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc xin tạm trú, còn những tăng ni khác phải trở về quê nhà. Ngày 29-12-2009, dưới áp lực của NCQ, các tăng sinh Bát Nhã đang nương náu tại chùa Phước Huệ đã phải rời chùa một cách tức tưởi. (*6)

− Vụ triệt hạ Thánh giá tại giáo xứ Đồng Chiêm (giáo phận Hà Nội): Vào sáng sớm ngày 06-01-2010, NCQ Việt Cộng đã triệt hạ và đập nát Thánh giá bằng bê-tông tại khu vực Núi Thờ, nơi chôn cất các trẻ em sơ sinh và những người vô gia cư nằm cạnh Nhà thờ Đồng Chiêm. Họ đã huy động một lực lượng vũ trang đông đảo khoảng từ 600 đến 1.000 người để phong tỏa các giáo xứ Nghĩa Ải, Tụy Hiền, Đồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi thực hiện kế hoạch. Trước hành động phạm thánh đó, giáo dân Đồng Chiêm đã yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại. Các tín hữu này đã bị công an ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn trong đó có hai nữ giáo dân bị thương nặng phải điều trị tại bệnh viện. Sau đó công an đã gửi giấy triệu tập nhiều giáo dân đến thẩm vấn tại đồn để khủng bố tinh thần, gia tăng kiểm soát và sách nhiễu nhiều giáo xứ công giáo trong thành phố Hà Nội như Hàm Long, Thái Hà, Kẻ Sét, Chính Tòa Nhà Thờ Lớn, Phùng Khoang… hoàn toàn phong toả vùng Đồng Chiêm, không cho ai đến thăm viếng. Một số người tới viếng thăm đã bị đánh trọng thương như tu sĩ Nguyễn Văn Tặng, nhà báo Nguyễn Hữu Vinh… Các loa phóng thanh được tăng cường ở gần nhà thờ, khủng bố suốt ngày với giọng điệu vu khống, xuyên tạc các việc làm của linh mục và giáo dân Đồng Chiêm. Hai trang mạng của DCCT là http://dcctvn.net và http://mehangcuugiup.info bị tấn công đến hư hỏng nặng, không thể tiếp tục đăng tải các thông tin liên quan đến vụ việc. (*7)

II- NHỮNG HÀNH ĐỘNG “HÈN VỚI GIẶC”

Ngoài thái độ hèn nhát, im lặng thụ động của NCQ Việt Cộng lâu nay trước sự xâm lăng, hiếp đáp của Trung Cộng như lấn chiếm đất đai biên giới phía bắc, hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và hàng chục ngàn cây số vuông lãnh hải, bắn vào tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam trên vùng biển của đất nước, khai thác bauxit ở Tây Nguyên, mở những đường hỏa xa và cao tốc từ biên giới Trung-Việt theo nhiều ngả đến Hà Nội, tự do vào Việt Nam không cần chiếu khán… (toàn là những việc rất nguy hiểm cho vận mạng quốc gia), mới đây, NCQ Việt Cộng lại tỏ ra khiếp nhược trước kẻ thù Bắc phương qua những vụ việc như sau:

1/ Hí hửng mở Năm Hữu nghị Việt-Trung

Nhân kỷ niệm lần thứ 60 Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Trung-Việt (18/1/1950 - 18/1/2010), bộ sậu lãnh đạo Việt Cộng như Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã gởi điện mừng đến lãnh đạo CS Trung Cộng với những lời lẽ xu nịnh hèn hạ như sau: “Nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay… Với việc kỷ niệm trọng thể 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước Việt NamTrung Quốc, chúng ta đã chính thức khởi đầu “Năm Hữu nghị ViệtTrung 2010”. Đây là cơ hội rất tốt để củng cố hơn nữa tình hữu nghị truyền thống, sự đoàn kết và tin cậy lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước ViệtTrung. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn quý trọng và trước sau như một sẽ làm hết sức mình để không ngừng phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em….” Hai vụ xử sơ thẩm và phúc thẩm các nhà dân chủ từng bày tỏ sự phản đối Trung Cộng ngày 18, 20, 21 tháng Giêng (quanh lễ kỷ niệm) là món quà CSVN dâng lên quan thầy CSTQ.

2/ Nghe đại sứ Trung Cộng Tôn Quốc Tường dạy bảo

Ngày 6-1-2009, Tôn Quốc Tường, Đại sứ Trung Cộng tại Việt Nam, trong một cuộc họp báo, đã đưa ra một số thông điệp cho NCQ CS cũng như cho người dân Việt Nam.

Trước hết ông ta đề xuất việc “tạm gác lại những tranh chấp, cùng nhau khai thác biển Đông”. Phải chăng là Trung Cộng vẫn có quyền tiếp tục mở rộng du lịch tại Hoàng Sa, mở rộng thăm dò dầu khí tại Trường Sa, khai thác thủy hải sản tại biển Đông, tiếp tục triển khai đóng khu trục hạm tuần tiễu trên biển của nước Việt v.v...? Phải chăng là Việt Nam phải tiếp tục trấn áp những tiếng nói yêu nước sẽ còn cất lên để tố giác âm mưu và phản đối hành vi của Bắc thù Đại Hán? Phải chăng là Việt Nam phải chờ cho đến khi ba con đường cao tốc (Lào Cai-Hà Nội; Cao Bằng-Hà Nội, Lạng Sơn-Hà Nội) mà Trung Cộng cho Việt Cộng vay qua “viện trợ hữu nghị” được xây dựng xong? Đây là ba ngả đường quan trọng từ biên giới vào đến thủ đô, tạo điều kiện cho cơ giới của Trung Cộng tiến vào tấn công nếu Việt Nam không tuân theo những yêu sách của họ. Thật kinh hãi và đau lòng cho đất nước khi thấy Thủ tướng Việt Cộng đích thân đi cắt băng khởi công mấy con đường cao tốc hết sức nguy hiểm cho vận mệnh đất nước này!

Viên đại sứ tiếp đó răn đe: “Cùng hợp tác làm ăn thì phát triển, còn đấu tranh thì thất bại”. Phải chăng là hai bên phải nhắm mục tiêu đại cục là đưa kim ngạch thương mại VN-TQ lên 25 tỷ, trong đó chủ yếu là Việt Nam xuất cảng sang Trung Cộng tài nguyên khoáng sản, còn Trung Cộng xuất cảng vào Việt Nam hàng hóa đã gia công nhưng có chất lượng thấp, an toàn kém? Điều này thu về cho Trung Cộng hàng năm lượng đô la xuất siêu lên đến 12 tỷ USD. Phải chăng là nếu Việt Nam đấu tranh đòi lại Hoàng Sa Trường Sa, phản đối việc tàu Trung Cộng bắn vào tàu đánh cá Việt Nam ở những vùng biển họ xâm chiếm thì sẽ chuốc lấy những hậu quả tai hại?

Viên đại sứ còn phủ dụ: “Khi điều kiện chín muồi, hai bên sẽ giải quyết vấn đề tốt hơn với phương án hợp lý hơn”. Nhưng vì không nói rõ tiêu chí nào sẽ xác định sự chín muồi của điều kiện, nên phải chăng là Việt Nam hãy cứ nhẩn nha đợi cho điều kiện chín muồi, kiên tâm chờ cho đến vô tận để giải quyết mối tranh chấp ở Biển Đông? Phải chăng điều kiện chín muồi là lúc Hoàng Sa Trường Sa và vùng biển “Lưỡi Bò” của Trung Cộng − trong đó có hải phận hiện nay của Việt Nam − đã chính thức và vĩnh viễn trở thành của Trung Cộng mà Việt Nam có muốn đòi lại cũng vô phương, bởi lẽ “cứt trâu để lâu hóa bùn”?

Trước những răn đe phủ dụ công khai và ngạo mạn như thế của đại sứ Trung Cộng ngay tại thủ đô nước mình, Đảng và nhà nước CSVN vẫn câm mồm chấp nhận, không dám mở lời phản đối một tiếng để bảo vệ chủ quyền và thể thống quốc gia. Như thế chẳng phải là hèn với giặc sao? Phải chăng bộ Chính trị đảng CSVN đã lóa mắt vì quyền lợi riêng, vì quyền lực đảng, không còn nhìn thấy hiểm họa của đất nước đã đến chân rồi?

III- NHẬN ĐỊNH CỦA KHỐI 8406

Qua những sự kiện trên, Khối 8406 nhận thấy đảng và nhà nước Việt Cộng ngày càng lộ bản chất “cực ác với dân, thậm hèn với giặc”.

Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam ngày càng tồi tệ chưa từng thấy. Nhà cầm quyền Việt Cộng đang quyết tâm áp dụng những biện pháp mạnh mẽ nhằm trấn áp, đe dọa, bỏ tù tất cả những ai − cụ thể là những người bị xử án và bị sách nhiễu nói trên − dám thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do tôn giáo, dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giới lao động bị bóc lột đồng lương, của giới dân oan bị cướp đoạt đất đai cửa nhà. Việc xét xử các nhà đấu tranh dân chủ với những bản án nặng nề và việc đàn áp các tôn giáo với những biện pháp hung hãn là do NCQ Việt Cộng muốn bịt miệng và tiêu diệt những cá nhân hay tập thể nào lên tiếng phản kháng khi nhìn thấy bản chất vừa hèn vừa ác ấy của đảng và nhà nước CS. Chỉ những kẻ lãnh đạo hèn, biết mình bất xứng mới sợ hãi trước những lời kêu gọi để dân tộc tự chọn lựa thể chế và con đường tương lai cho đất nước. Chỉ những kẻ cầm quyền hèn, biết mình đang cam tâm liên kết với kẻ thù của dân tộc mới ra sức bóp nghẹt những tiếng nói cảnh báo về tham vọng xâm lược của ngoại bang.

Tình trạng mất chủ quyền tại Việt Nam cũng chưa bao giờ rõ rệt bằng hiện nay khi mà bất chấp bao việc xâm lấn đất đai, tàn hại dân Việt của Trung Cộng, NCQ Việt Cộng vẫn hân hoan mừng kỷ niệm 60 năm bang giao TrungViệt với lòng biết ơn và xưng tụng mối bang giao đó luôn luôn tốt đẹp; khi mà đại sứ của Trung Cộng dám đe dọa NCQ Việt Cộng theo kiểu công khai, cung cách thái thú trong khi NCQ này − lúc nào cũng tự hào mình có chủ quyền − không dám biểu lộ một hành động phản đối. Một đất nước có chủ quyền không thể chấp nhận cho đại sứ của một quốc gia khác công khai nói những lời răn đe hỗn xược và ngạo mạn đến như thế trên đất nước mình.

IV- YÊU CẦU CỦA KHỐI 8406:

Vì thế, Khối 8406 yêu cầu Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam:

− Chấm dứt việc đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ trong nước bằng những phiên tòa giả tạo, không tôn trọng công lý, tuyên những bản án do Bộ chính trị định sẵn. Đồng thời trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho các nhà đối kháng vừa bị kết án nói trên hay còn bị giam giữ như Lm Nguyễn Văn Lý, Ls Nguyễn Văn Đài, Ls Lê Thị Công Nhân, cô Phạm Thanh Nghiên… Chấm dứt việc sách nhiễu các nhà đấu tranh dân chủ như phong tỏa, chặn đường, lôi về đồn thẩm vấn.

− Chấm dứt mọi hình thức đàn áp tôn giáo như triệt hạ những biểu tượng tôn giáo, đánh đập, bắt bớ, giam giữ, thẩm vấn những ai bảo vệ đất đai, tài sản, biểu tượng tôn giáo một cách ôn hòa.

− Thẳng thắn bênh vực quyền lợi chung của đất nước, nhất là sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Cần biểu lộ rõ ràng sự phản đối trước những lời đe dọa của các đại diện Trung Cộng và những đề nghị chỉ có lợi cho phía Trung Cộng nhưng rất nguy hại đến nền an ninh quốc gia.

Khối 8406 cũng đề nghị chính giới quốc tế cũng như đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước:

− Lên án những phiên tòa giả tạo, bất công, phi pháp, sản phẩm của một nền tư pháp công cụ của bộ chính trị đảng CSVN.

− Ủng hộ cho cuộc đấu tranh đòi quyền con người và quyền tự quyết của toàn dân Việt Nam trên đất nước mình.

Việt Nam, ngày 29 tháng 01 năm 2010.

Ban Đại diện Lâm thời Khối 8406

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.
3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại.
Trong sự hiệp thông với Lm Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

Phụ chú:

(*1) http://www.doithoaionline.org/baimoitrongthang/2009/1209/baimoi1209_348.html

(*2) http://danluan.org/node/3454

(*3) http://www.vietnamdaily.com/?c=article&p=60004, http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=106848&z=2

(*4) http://my.opera.com/labika/forums/topic.dml?id=294276, http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=428204

(*5) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/CaoDai-oratory-in-DinhQuan-attacked-TQuang-12292009113137.html?searchterm=None, http://sbtn.blogspot.com/2010/01/thanh-that-cao-ai-inh-quan-bi-tan-cong.html

(*6) http://www.doithoaionline.org/baimoitrongthang/2009/1209/baimoi1209_202.html, http://www.doithoaionline.org/baimoitrongthang/2009/1209/baimoi1209_259.html, http://www.doithoaionline.org/baimoitrongthang/2009/1209/baimoi1209_392.html,

(*7) http://vietcatholic.net/News/Html/75248.htm, http://vietcatholic.net/News/Html/75263.htm, http://vietcatholic.net/News/Html/75264.htm

Wednesday, January 13, 2010

 

Thư hiệp thông với Giáo xứ Đồng Chiêm, Tổng Giáo phận Hà Nội

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
Thư hiệp thông với Giáo xứ Đồng Chiêm, Tổng Giáo phận Hà Nội

08-01-2010

Kính gởi:

- Đức Tổng Giám mục Giáo phận Hà Nội,
- Hai Linh mục cai quản Giáo xứ Đồng Chiêm,
- Các Tín hữu Giáo xứ Đồng Chiêm.

Kính thưa Đức Cha, Quý Cha, cùng Quý Anh Chị Em giáo hữu.

Chúng con ký tên dưới đây là đại diện cho một nhóm Linh mục nguyện sống theo tinh thần Đức Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, gọi tắt là Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Noi gương vị Bổn mạng từng dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền mà đã bị Cộng sản sát hại năm 1988, chúng con xin có đôi lời gởi đến toàn thể Quý vị:

1- Theo tin tức và bài viết trên mạng, nhất là theo Thông báo của Văn phòng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 07-01-2010 về vụ việc Thánh Giá trên Núi Thờ của Giáo xứ Đồng Chiêm thuộc xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, chúng con biết rằng:

Giáo xứ Đồng Chiêm có một nơi chôn cất các trẻ em sơ sinh và những người vô gia cư mang tên Núi Thờ (còn gọi là Núi Chẽ) nằm cạnh Nhà thờ. Tháng 3-2009, Giáo xứ đã cùng các Cha Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội dựng lên trên đỉnh núi một cây Thánh Giá bằng bê tông, như thói tục thông thường của các nghĩa trang Công giáo. Thế mà ngay sau đó, Giáo xứ đã bị nhà cầm quyền địa phương sách nhiễu với đủ lý do lố bịch về việc thánh thiện chính đáng này. Hậu quả là một nữ giáo dân đã bị một cán bộ xô ngã cầu thang đến trọng thương tại trụ sở huyện vào ngày 14-04-2009 (Bát nhật Phục Sinh) trong một buổi “triệu tập làm việc”.

Vào lúc 2g sáng ngày 06-01-2010, lợi dụng khi hai vị chủ chăn Giáo xứ đi tĩnh tâm tại tòa TGM, các lực lượng vũ trang của nhà cầm quyền CS từ khoảng 600 đến 1.000 người gồm dân quân tự vệ, công an và cảnh sát cơ động với súng ống, dùi cui, lựu đạn cay, chó nghiệp vụ, đã phong tỏa các giáo xứ Nghĩa Ải, Tụy Hiền, Đồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi bắt đầu triệt hạ và đập nát Thánh Giá. Trước hành động phạm thánh giữa đêm khuya đó, giáo dân Đồng Chiêm đã yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại. Thế nhưng các tín hữu đã bị công an cảnh sát ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn trong đó có hai nữ giáo dân bị thương nặng hiện còn phải điều trị tại bệnh viện.

2- Hiệp thông với Đức Cha, Quý Cha TGP Hà Nội, hai Cha Quản xứ và toàn thể Anh Chị Em Đồng Chiêm, trước tiên chúng con hết sức đau buồn, một đàng vì Thánh Giá, biểu tượng thiêng thánh nhất của niềm tin Kitô giáo và của Giáo hội đã bị những kẻ vô thần xúc phạm ngay chính nơi nghĩa địa thánh thiêng, đàng khác vì nhiều Anh Chị em Giáo dân vô tội và vô phương tự vệ bị chính lực lượng gọi là “bảo vệ trị an” của một nhà cầm quyền tự xưng “của dân, do dân, vì dân” đàn áp cách dã man và lạnh lùng, xúc phạm trầm trọng đến nhân phẩm của họ. Chúng con cùng muốn chít vành khăn tang như mọi tín hữu Đồng Chiêm trong ngày đại nạn.

3- Cùng với mọi ai đang phẫn nộ trước tội ác và đòi công lý cho các nạn nhân, chúng con cực lực phản đối hành vi phá hoại biểu tượng tôn giáo cách mờ ám đê hèn và đàn áp nhân sự tôn giáo cách hung tàn thâm độc của nhà cầm quyền và đằng sau họ là đảng Cộng sản. Những kẻ này luôn coi mọi ai nói khác và làm khác với họ, những ai động tới quyền lực và quyền lợi của họ đều là kẻ thù, cần phải triệt hạ. Trên thế giới này, chưa có một chế độ nào nhiều kẻ thù như chế độ Cộng sản. Bởi bản chất gian manh độc ác của nó, bởi cuồng vọng thống trị độc tôn của nó, nó tự chuốc cho mình vô số kẻ thù và tự biến mình thành kẻ thù của toàn dân, của tất cả.

4- Vụ việc Đồng Chiêm xảy ra trong bối cảnh chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết vừa sang Vatican gặp Đức Giáo hoàng với lời tuyên bố: “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân và luôn coi đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Với sự quan tâm của chính quyền các cấp, các tôn giáo ở Việt Nam đều được tạo điều kiện phát triển thuận lợi”, trong bối cảnh các viên chức cầm quyền từ tỉnh thành đến huyện xã vừa mới đến chúc mừng Giáng sinh cho mọi chức sắc lớn nhỏ trong Giáo hội, nhưng cũng trong bối cảnh nhà cầm quyền Lâm Đồng vừa xóa sổ tăng thân Bát Nhã, nhà cầm quyền Gia Lai vừa đấu tố Mục sư Nguyễn Công Chính, nhà cầm quyền Sài Gòn vừa ra công văn hăm dọa và kết án Dòng Chúa Cứu Thế, nhà cầm quyền Vĩnh Long đang cướp đất của dòng Thánh Phaolô, nhà cầm quyền Đà Lạt đang biến Giáo hoàng học viện thành vườn hoa công cộng… Tất cả cho thấy chính sách tôn giáo của chế độ này luôn đểu giả và thâm độc, với mục tiêu tối hậu không bao giờ thay đổi là tiêu diệt mọi tôn giáo.

5- Cuối cùng, chúng con xin đáp ứng lời kêu gọi của Tòa TGM Hà Nội qua Thông báo nói trên: “Trong tình hiệp thông của Giáo hội, xin các cha, tu sĩ nam nữ, chủng sinh,và tất cả anh chị em hãy tích cực cầu nguyện co giáo xứ Đồng Chiêm được vững vàng chia sẻ thập giá Chúa Kitô. Chúng ta cũng cầu nguyện cho đất nước được thực sự công bằng dân chủ và văn minh, những giá trị thiêng liêng được tôn trọng và các quyền con người được bảo vệ”. Tuy nhiên, noi gương Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II và các Giáo hội Đông Âu thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước, chúng con cũng muốn hành động cùng với toàn dân trong tinh thần bất bạo động, để chế độ Cộng sản sẽ không còn hoành hành trên đất nước và đảng Cộng sản không còn lộng hành trên ghế quyền lực. Bởi lẽ chính đảng và chế độ này ngày càng phạm thêm sai lầm và tội ác không những đối với tôn giáo, mà còn đối với nhân dân, nhất là làm Tổ quốc mất dần vào tay lân bang xâm lược.

Làm tại Việt Nam ngày 08-01-2010, kỷ niệm 5 năm ngư dân Thanh Hóa bị Trung Cộng bắn chết (08-01-2005) và 36 năm Tổ quốc mất quần đảo Hoàng Sa (19-01-1974).

Đại diện nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
- Linh mục Têphanô Chân Tín, dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế (đang bị theo dõi tại xứ)
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang bị giam giữ tại tù)
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản chế tại gia)

 
THƯ NGỎ KÊU GỌI HIỆP THÔNG VÀ CHIA BUỒN
VỚI CÁC GIA ĐÌNH NẠN NHÂN
BỊ TÀU HẢI QUÂN TRUNG QUỐC BẮN CHẾT

Linh mục Chân Tín 20-01-2005

Kính gửi:

- Đồng bào Việt Nam trong nước và hải ngoại, đặc biệt gia đình các nạn nhân ở Thanh Hóa.
- Các vị đang cầm quyền tại Việt Nam.

Chúng tôi rất đau đớn khi nghe tin một số ngư dân tại xã Hòa Lộc và Hoằng Trường tỉnh Thanh Hóa bị hai tàu hải quân Trung Quốc bắn xối xả khi đánh cá trong hải phận của đất nước mình vào ngày 8-1-2005. Kết quả là có 9 ngư dân bị thiệt mạng, 7 người bị thương nặng và 8 người bị hải quân Trung Quốc bắt đem đi. Chẳng những bị thiệt mạng, bị thương nặng và bị bắt, họ còn bị phía Trung Quốc vu khống là xâm nhập vào hải phận của họ và có ý đồ cướp tàu đánh cá của họ.

Vì thế, trong tinh thần “máu chảy ruột mềm” giữa đồng bào cùng một nguồn cội với nhau, chúng tôi – ba linh mục Chân Tín, Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi – xin chân thành gửi lời chia buồn đến gia đình các nạn nhân ở Thanh Hóa. Những ai quen biết gia đình các nạn nhân đọc được thư hiệp thông này, xin vui lòng chuyển lời chia buồn của chúng tôi đến gia đình các nạn nhân. Xin thành thật cám ơn.

Chúng tôi cũng xin tất cả mọi người Việt trong và ngoài nước quan tâm đến sự việc này để cầu nguyện cho các nạn nhân và gia đình của họ. Nhất là cầu nguyện và làm những gì có thể để những vụ này không xảy ra nữa cho ngư dân Việt Nam. Chúng tôi cũng xin những ai có lòng hãy tìm cách cụ thể giúp đỡ gia đình các nạn nhân.

Trong tinh thần chia sẻ nỗi đau thương với các gia đình nạn nhân, chúng tôi cực lực lên án hành vi dã man, phi pháp, coi thường mạng sống và quyền lợi hợp pháp của người dân Việt Nam, và vi phạm luật quốc tế của các tàu hải quân Trung Quốc. Giả như – chỉ là giả như thôi – các ngư dân này có thật sự xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc, thì hải quân Trung Quốc cũng chỉ có thể dùng áp lực buộc họ ra khỏi hải phận Trung Quốc, nhiều lắm là bắt giữ họ để điều tra, chứ hoàn toàn không có quyền bắn giết họ cách dã man như thế. Huống hồ họ chỉ đánh bắt cá trong hải phận Việt Nam. Rồi để chạy tội cho việc vi phạm này, bộ ngoại giao Trung Quốc còn vu khống họ là hải tặc, tấn công các tàu đánh cá của Trung Quốc. Đây quả là hành động “vừa ăn cướp, vừa la làng” thật hèn hạ, không xứng với tư cách một nước đàn anh rất lớn và có một nền văn hóa thật lâu đời như Trung Quốc. Hành động này không chỉ sỉ nhục các ngư dân Việt Nam bị nạn, mà còn làm những người dân Trung Quốc có liêm sỉ cảm thấy thật nhục nhã, xấu hổ cho phong cách ngoại giao của cái chính quyền đang đại diện cho họ trước thế giới!

Chúng tôi cũng xin mọi người trong và ngoài nước quan tâm đến sự việc nghiêm trọng này. Như mọi người đều biết, Trung Quốc từ bao thế kỷ qua, luôn luôn có ý đồ bành trướng thế lực về phương Nam và đã từng xâm phạm lãnh thổ Việt Nam rất nhiều lần. Trường hợp vừa qua là lại thêm một lần nữa. Trước tình trạng nguy hiểm đó, Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam đã nhiều lần tỏ ra bạc nhược, sẵn sàng nhượng bộ, hy sinh lãnh thổ, hải phận và quyền lợi của dân tộc mình cho Trung Quốc, mong nhận được sự bảo vệ và hậu thuẫn của Trung Quốc cho quyền lực độc chiếm của đảng mình. Vì thế, nếu người dân chúng ta không ý thức tình trạng cực kỳ nguy hiểm này để lên tiếng phản ứng mạnh mẽ, thì Trung Quốc sẽ “được đằng chân, lân đằng đầu”, và đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ tiếp tục nhượng bộ nữa, miễn sao mua chuộc được sự bảo hộ của Trung Quốc cho quyền lực của mình. Sự việc tàu hải quân Trung Quốc bắn chết ngư dân Việt Nam lần này sở dĩ xảy ra chính vì sự bạc nhược và hèn yếu của nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của dân tộc.

Trong vụ việc này, sự bạc nhược của nhà nước Việt Nam được chứng tỏ qua những sự kiện sau:

– Sự chậm trễ lên tiếng và lên tiếng rất yếu ớt của nhà nước Việt Nam. Sự việc xảy ra từ ngày 8-1-2005, thế mà 4 ngày sau báo Thanh Niên mới đưa tin. Các báo khác, đặc biệt các báo do nhà nước trực tiếp quản lý, đều câm lặng. Trong khi đó, những sự việc nhỏ như việc vu khống mục sư Nguyễn Hồng Quang, hay mới đây, việc truy tố cách phi lý nữ ký giả của báo Tuổi trẻ vì đã tố cáo công ty dược phẩm Zuellig Pharma VN… thì các báo của nhà nước đồng loạt thi nhau làm ầm ỹ cả lên. Chẳng lẽ nhà nước Việt Nam lại coi những sự việc nhỏ mọn ấy còn nghiêm trọng hơn cả việc Trung Quốc vi phạm lãnh thổ và bắn chết tới 9 mạng người? Chỉ sau khi bị dư luận trong và ngoài nước tố cáo sự bạc nhược này, Bộ Ngoại Giao Việt Nam mới dùng cái “loa” là phát ngôn viên của mình lên tiếng một cách yếu ớt, chiếu lệ tố cáo và kết án hành vi xâm phạm này của Trung Quốc.

– Trong khi vụ Trung Quốc vi phạm hải phận Việt Nam một cách nghiêm trọng như thế xảy ra, thì tại Hà Nội, bà Cố Tú Liên, phó chủ tịch Quốc hội của Trung Quốc, sang thăm Việt Nam. Thế mà các nhà ngoại giao của hai nước chỉ toàn nói những điều tốt đẹp về nhau, ca tụng và “bốc thơm” lẫn nhau. Các quan chức nhà nước ta sợ hãi Trung Quốc đến độ không dám đề cập hay nói bóng gió gì đến sự việc nghiêm trọng đang xảy ra là việc tàu hải quân Trung Quốc xâm phạm hải phận và bắn giết dã man 9 người dân Việt Nam.

– Trước sự kiện tàu hải quân Trung Quốc bắn chết các ngư dân Việt Nam vừa xảy ra, những người Việt Nam yêu nước cảm thấy thật đau lòng khi thấy các quan chức Cộng sản Việt Nam lúc nào cũng “bốc thơm” mối giao hảo tốt đẹp giữa hai nước: “Quốc hội nước ta tỏ ra vui mừng về mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc, cho rằng mối quan hệ tốt đẹp đó đang phát triển vững chắc theo phương châm 16 chữ mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định”; “Bên cạnh ý kiến của ông Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội thì cũng có ý kiến của Thủ tướng Phan Văn Khải cho là Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời và hiện nay mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển rất tốt đẹp”. Chẳng vị nào dám lên tiếng than phiền về vụ việc hay bênh vực người dân của mình cả. Ôi! Mỉa mai thay cho một chính quyền luôn tự hào là “của dân, vì dân và cho dân”!

– Tệ hơn nữa, ngày 14-1-2005, nghĩa là sau khi sự việc Trung Quốc xâm phạm hải phận một tuần lễ, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Di Niên đã nhận lời mời của Tề Kiến Quốc, Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, đến dự tiệc liên hoan mừng mối giao hảo đẹp đẽ giữa Việt Nam và Trung Hoa! Không biết ông bộ trưởng ngoại giao của Việt Nam này và các quan chức nhà nước khác có cảm thấy nỗi nhục nhã của đất nước mình trong bữa tiệc này và trong những lời “bốc thơm” của mình không? Nếu không thấy nhục nhã thì quả thật là vô liêm sỉ!

Trước sự việc đáng tiếc đã xảy ra, và nhất là trước nguy cơ bành trướng thế lực của Trung Quốc, rất nguy hiểm cho đất nước và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đề nghị Chính quyền Việt Nam:

1) Phải tỏ ra thật mạnh mẽ và kiên quyết trong việc bênh vực chủ quyền của Việt Nam trên lãnh thổ và lãnh hải của mình; đồng thời bảo vệ quyền lợi của các ngư dân hiền lành hành nghề trong khu vực hải phận của đất nước mình.

2) Đòi buộc Trung Quốc phải phóng thích ngay các ngư dân đang bị giam giữ, trong đó có 8 ngư dân bị bắt trong vụ vừa qua, và 80 ngư dân đang bị bắt giữ trên đảo Hải Nam từ 28-12-2004 đến nay.

3) Đòi buộc Trung Quốc phải bồi thường thỏa đáng cho gia đình các nạn nhân đã bị giết chết cách dã man.

4) Hãy đặt quyền lợi của toàn dân lên trên quyền lợi của Đảng Cộng Sản; Đừng vì muốn bảo vệ quyền lực của mình mà bắt toàn dân phải đau khổ hy sinh cho mình, nhất là hy sinh cả lãnh thổ và lãnh hải của đất nước chỉ để nhận được sự bảo hộ của nước ngoài cho quyền lực của mình.

Cuối cùng, chúng tôi xin hiệp thông với tất cả Đồng Bào Việt Nam và Quý Vị cầm quyền trong niềm mong ước chung là đất nước ta được tự do, dân chủ và hạnh phúc.

Sài gòn, ngày 20-1-2005
Linh mục CHÂN TÍN
(với sự thông hiệp của Lm Nguyễn Hữu Giải và Lm Phan Văn Lợi)

 

Thư hiệp thông với Giáo xứ Đồng Chiêm, Tổng Giáo phận Hà Nội

Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
Thư hiệp thông với Giáo xứ Đồng Chiêm, Tổng Giáo phận Hà Nội
08-01-2010

Kính gởi:

- Đức Tổng Giám mục Giáo phận Hà Nội,
- Hai Linh mục cai quản Giáo xứ Đồng Chiêm,
- Các Tín hữu Giáo xứ Đồng Chiêm.

Kính thưa Đức Cha, Quý Cha, cùng Quý Anh Chị Em giáo hữu.

Chúng con ký tên dưới đây là đại diện cho một nhóm Linh mục nguyện sống theo tinh thần Đức Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, gọi tắt là Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Noi gương vị Bổn mạng từng dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền mà đã bị Cộng sản sát hại năm 1988, chúng con xin có đôi lời gởi đến toàn thể Quý vị:

1- Theo tin tức và bài viết trên mạng, nhất là theo Thông báo của Văn phòng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội ngày 07-01-2010 về vụ việc Thánh Giá trên Núi Thờ của Giáo xứ Đồng Chiêm thuộc xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, chúng con biết rằng:

Giáo xứ Đồng Chiêm có một nơi chôn cất các trẻ em sơ sinh và những người vô gia cư mang tên Núi Thờ (còn gọi là Núi Chẽ) nằm cạnh Nhà thờ. Tháng 3-2009, Giáo xứ đã cùng các Cha Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội dựng lên trên đỉnh núi một cây Thánh Giá bằng bê tông, như thói tục thông thường của các nghĩa trang Công giáo. Thế mà ngay sau đó, Giáo xứ đã bị nhà cầm quyền địa phương sách nhiễu với đủ lý do lố bịch về việc thánh thiện chính đáng này. Hậu quả là một nữ giáo dân đã bị một cán bộ xô ngã cầu thang đến trọng thương tại trụ sở huyện vào ngày 14-04-2009 (Bát nhật Phục Sinh) trong một buổi “triệu tập làm việc”.

Vào lúc 2g sáng ngày 06-01-2010, lợi dụng khi hai vị chủ chăn Giáo xứ đi tĩnh tâm tại tòa TGM, các lực lượng vũ trang của nhà cầm quyền CS từ khoảng 600 đến 1.000 người gồm dân quân tự vệ, công an và cảnh sát cơ động với súng ống, dùi cui, lựu đạn cay, chó nghiệp vụ, đã phong tỏa các giáo xứ Nghĩa Ải, Tụy Hiền, Đồng Chiêm, chặn tất cả các lối đi và khu vực Núi Thờ rồi bắt đầu triệt hạ và đập nát Thánh Giá. Trước hành động phạm thánh giữa đêm khuya đó, giáo dân Đồng Chiêm đã yêu cầu những kẻ căm thù tôn giáo hãy ngừng tay lại. Thế nhưng các tín hữu đã bị công an cảnh sát ném lựu đạn cay, một số đã bị đánh đập tàn nhẫn trong đó có hai nữ giáo dân bị thương nặng hiện còn phải điều trị tại bệnh viện.

2- Hiệp thông với Đức Cha, Quý Cha TGP Hà Nội, hai Cha Quản xứ và toàn thể Anh Chị Em Đồng Chiêm, trước tiên chúng con hết sức đau buồn, một đàng vì Thánh Giá, biểu tượng thiêng thánh nhất của niềm tin Kitô giáo và của Giáo hội đã bị những kẻ vô thần xúc phạm ngay chính nơi nghĩa địa thánh thiêng, đàng khác vì nhiều Anh Chị em Giáo dân vô tội và vô phương tự vệ bị chính lực lượng gọi là “bảo vệ trị an” của một nhà cầm quyền tự xưng “của dân, do dân, vì dân” đàn áp cách dã man và lạnh lùng, xúc phạm trầm trọng đến nhân phẩm của họ. Chúng con cùng muốn chít vành khăn tang như mọi tín hữu Đồng Chiêm trong ngày đại nạn.

3- Cùng với mọi ai đang phẫn nộ trước tội ác và đòi công lý cho các nạn nhân, chúng con cực lực phản đối hành vi phá hoại biểu tượng tôn giáo cách mờ ám đê hèn và đàn áp nhân sự tôn giáo cách hung tàn thâm độc của nhà cầm quyền và đằng sau họ là đảng Cộng sản. Những kẻ này luôn coi mọi ai nói khác và làm khác với họ, những ai động tới quyền lực và quyền lợi của họ đều là kẻ thù, cần phải triệt hạ. Trên thế giới này, chưa có một chế độ nào nhiều kẻ thù như chế độ Cộng sản. Bởi bản chất gian manh độc ác của nó, bởi cuồng vọng thống trị độc tôn của nó, nó tự chuốc cho mình vô số kẻ thù và tự biến mình thành kẻ thù của toàn dân, của tất cả.

4- Vụ việc Đồng Chiêm xảy ra trong bối cảnh chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết vừa sang Vatican gặp Đức Giáo hoàng với lời tuyên bố: “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của người dân và luôn coi đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Với sự quan tâm của chính quyền các cấp, các tôn giáo ở Việt Nam đều được tạo điều kiện phát triển thuận lợi”, trong bối cảnh các viên chức cầm quyền từ tỉnh thành đến huyện xã vừa mới đến chúc mừng Giáng sinh cho mọi chức sắc lớn nhỏ trong Giáo hội, nhưng cũng trong bối cảnh nhà cầm quyền Lâm Đồng vừa xóa sổ tăng thân Bát Nhã, nhà cầm quyền Gia Lai vừa đấu tố Mục sư Nguyễn Công Chính, nhà cầm quyền Sài Gòn vừa ra công văn hăm dọa và kết án Dòng Chúa Cứu Thế, nhà cầm quyền Vĩnh Long đang cướp đất của dòng Thánh Phaolô, nhà cầm quyền Đà Lạt đang biến Giáo hoàng học viện thành vườn hoa công cộng… Tất cả cho thấy chính sách tôn giáo của chế độ này luôn đểu giả và thâm độc, với mục tiêu tối hậu không bao giờ thay đổi là tiêu diệt mọi tôn giáo.

5- Cuối cùng, chúng con xin đáp ứng lời kêu gọi của Tòa TGM Hà Nội qua Thông báo nói trên: “Trong tình hiệp thông của Giáo hội, xin các cha, tu sĩ nam nữ, chủng sinh,và tất cả anh chị em hãy tích cực cầu nguyện co giáo xứ Đồng Chiêm được vững vàng chia sẻ thập giá Chúa Kitô. Chúng ta cũng cầu nguyện cho đất nước được thực sự công bằng dân chủ và văn minh, những giá trị thiêng liêng được tôn trọng và các quyền con người được bảo vệ”. Tuy nhiên, noi gương Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II và các Giáo hội Đông Âu thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước, chúng con cũng muốn hành động cùng với toàn dân trong tinh thần bất bạo động, để chế độ Cộng sản sẽ không còn hoành hành trên đất nước và đảng Cộng sản không còn lộng hành trên ghế quyền lực. Bởi lẽ chính đảng và chế độ này ngày càng phạm thêm sai lầm và tội ác không những đối với tôn giáo, mà còn đối với nhân dân, nhất là làm Tổ quốc mất dần vào tay lân bang xâm lược.

Làm tại Việt Nam ngày 08-01-2010, kỷ niệm 5 năm ngư dân Thanh Hóa bị Trung Cộng bắn chết (08-01-2005) và 36 năm Tổ quốc mất quần đảo Hoàng Sa (19-01-1974).

Đại diện nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền
- Linh mục Têphanô Chân Tín, dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn
- Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế (đang bị theo dõi tại xứ)
- Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang bị giam giữ tại tù)
- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản chế tại gia)

Tuesday, December 15, 2009

 

Linh mục Nguyễn Văn Lý: Tù nhân và bệnh nhân bất khuất


Bản tin ngày 15-12-2009



Linh mục Nguyễn Văn Lý

Tù nhân và bệnh nhân bất khuất


Như mọi người đã biết, hôm 15-11-2009, Linh mục Tù nhân Lương tâm Nguyễn Văn Lý đã được đưa từ nhà tù Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, ra bệnh viện của Bộ Công An, tại phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội, sau khi bị tai biến mạch máu não và bại liệt nửa người.



Trong thời gian điều trị ở đây, ngoài sự chăm sóc của bác sĩ và y tá của bệnh viện theo chế độ tù nhân (ở trong phòng cách ly có chấn song, có 5 công an canh gác đêm ngày, thuốc men hạng xoàng xĩnh), Linh mục Lý đã được thân nhân thay phiên nhau đến thăm nom, được hai vị Giám mục ở Huế đến thăm viếng, được một số linh mục, tu sĩ, giáo dân ở Hà Nội đến thăm vọng (đứng ngoài sân nhìn vào), được nhiều cá nhân và cộng đồng hải ngoại (như Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, các Khối 8406, 1706, 1906…), chính khách ngoại quốc (như 6 dân biểu Hoa Kỳ…) và tổ chức nhân quyền (như Ân xá Quốc tế, Phóng viên Không biên giới, Tự do Tức thì… ) thăm hỏi, mở chiến dịch vận động, yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp giùm và lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do.


Dù thể xác lâm bệnh nặng, tinh thần của Linh mục Lý vẫn sáng suốt và chí khí vẫn bất khuất. Linh mục đã nhiều lần phản đối bệnh viện lẫn y bác sĩ vì coi ông như một tên tội phạm: một lần yêu cầu xóa chữ này (“phạm nhân Lý”) trên toa thuốc đem tới, một lần yêu cầu xóa chữ này trên bảng thông báo điều trị của bệnh viện, một lần từ chối dùng thuốc trước thái độ hách dịch của cô y tá, một lần từ chối dùng thức ăn khi thấy nhân viên công an gây khó dễ cho thân nhân mình.


Đặc biệt, mỗi khi y tá bác sĩ đem thuốc tới cho linh mục dùng, ông đều buộc họ ký tên vào toa. Ban đầu họ tỏ vẻ khó chịu, linh mục Lý liền giải thích: “Tôi yêu cầu quý vị làm thế là để bảo vệ cho quý vị, vì chính một bề trên của tôi, Đức Cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, đã bị bác sĩ và y tá của Cộng sản giết chết bằng thuốc độc tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 6-6-1988”.


Khoảng ngày 25-11-2009, đang khi có một người cháu là Nguyễn Văn Hải chăm sóc bên cạnh, Linh mục Lý vẫn nhờ nhắn chị ruột là bà Nguyễn Thị Hiểu và người cháu làm nghề đông y sĩ là anh Nguyễn Công Hoàng ra lại gấp (hai người này trước đó đã đến bệnh viện thăm Linh mục một lần). Linh mục cho biết là nhà cầm quyền muốn gia đình làm “đơn cầu xin” và Tòa Giám mục Huế làm “đơn bảo lãnh” cho linh mục ra khỏi tù, về lại Huế để chữa bệnh. Toán công an (từ trại Ba Sao) đi theo canh giữ Linh mục thậm chí còn tự đề nghị chỉ dẫn cách cho mà làm đơn. Việc này xảy ra trong bối cảnh chủ tịch nước CSVN là Nguyễn Minh Triết sắp đến Vatican gặp Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô vào ngày 11-12-2009.


Thế nhưng, cha Lý và anh Hoàng đã bàn bạc riêng với nhau, và dưới đây là bức thư của gia đình viết ngày 29-11-2009, trong đó chỉ đề nghị chứ không xin xỏ nhà cầm quyền, và càng không tỏ ra dấu “nhận tội” để được CS “khoan hồng”, “ban ân huệ”. (Xin xem thủ bút trong attachment)


Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bệnh viện 19.8, ngày 29-11-2009


GIẤY ĐỀ NGHỊ


Kính gởi:

- Ông Bộ trưởng Bộ Công an, Hà Nội.

- Ban Giám thị trại giam Nam Hà, Hà Nam.


Kính thưa quý vị,


Từ ngày 25-5-2009 đến ngày 14-11-2009, Linh mục Nguyễn Văn Lý, là thân nhân gia tộc của chúng tôi, đã bị xuất huyết não 3 lần, mỗi lúc mỗi nặng hơn. Hiện nay Linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị liệt nặng nửa người bên phải. Mặc dù đã được quý y, bác sĩ tại bệnh viện tận tình điều trị chu đáo, nhưng theo các bác sĩ chuyên môn tiên liệu, bệnh trạng này sẽ kéo dài, không thể hồi phục nhanh, hơn nữa thường là rất dễ sớm bị tai biến lại. Cũng qua các kết quả của cận lâm sàng, các bác sĩ đã phát hiện có một khối u ở phần chẩm sau não.


Nay gia tộc chúng tôi đề nghị quý vị tạo điều kiện để Linh mục Nguyễn Văn Lý sớm được đưa về tiếp tục điều trị tại Nhà Chung của Tòa Tổng Giám mục Huế, số 69 Phan Đình Phùng, Huế. (Vì theo giáo luật, Linh mục Nguyễn Văn Lý đang thuộc quyền của Tòa Tổng Giám mục Huế).


Và từ đó, gia tộc chúng tôi mới có thể đề nghị Tòa Tổng Giám mục Huế cho phép gia tộc chúng tôi đưa Linh mục Nguyễn Văn Lý đến điều trị tại một bệnh viện có đủ những điều kiện thích hợp và thuận tiện hơn, ở miền Nam Việt Nam.


Toàn gia tộc chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý vị.


Đại diện gia tộc họ Nguyễn

(ký tên)

Nguyễn Công Hoàng

Đ/c: 1049 ấp Quảng Biên, Quảng Tiến, Trảng Bom, Đồng Nai.

CMND số : 272118752.

Cấp ngày 31-7-2007, tại Đồng Nai


Bức thư này dĩ nhiên chẳng làm Cộng sản ưng ý. Một viên chức của nhà cầm quyền cho biết họ không chấp nhận lời đề nghị, vì gia đình chẳng chịu ghi rõ sẽ thỏa mãn những điều kiện mà họ đã đặt ra cho Lm Lý khi chấp nhận cho ông rời khỏi nhà tù để ra ngoài chữa bệnh. Sau khi nó được viết xong, bà Hiểu đã lập tức mang bản sao vào cho Đức Tổng giám mục Nguyễn Như Thể và Đức Giám mục phụ tá Lê Văn Hồng tại Huế để hai vị biết lập trường của gia đình. Vì thế, người ta không thấy có việc bảo lãnh của Tòa TGM Huế. Việc bảo lãnh -nếu có- hàm ý công nhận linh mục Lý có tội, CS bỏ tù ông là đúng và nay mong nhà cầm quyền bày tỏ lòng khoan hồng với một “tội nhân” lâm bệnh.


Tiếp tục chờ đợi, cha Lý và thân nhân thấy nhà cầm quyền không tỏ thái độ thiện chí và nhân đạo, trái lại vẫn quyết dùng việc “điều trị ngoài nhà tù” như một biện pháp áp lực lên tinh thần của ông, đồng thời chẳng hy vọng điều gì tốt đẹp cho mình nhân cuộc viếng thăm Vatican của chủ tịch VNCS Nguyễn Minh Triết, nên cha Lý và anh Hoàng đã viết sẵn một lá thư (đề ngày 13-12-2009) để bày tỏ lập trường, đó là khước từ sự điều trị “có điều kiện” của Cộng sản. (Xin xem thủ bút trong attachment).


Bệnh viện 19.8, ngày 13 tháng 12 năm 2009


THƯ CẢM ƠN VÀ KHƯỚC TỪ ĐIỀU TRỊ


Kính gởi:

- Bộ Công an, Hà Nội.

- Ban Giám thị trại giam Nam Hà, Hà Nam.


Kính thưa quý vị,


Sau khi tôi bị tai biến mạch máu não lần thứ 2 ngày 12-7-2009, tôi được biết, sau đó ít lâu, khoảng từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-2009, các đại diện của gia tộc tôi đã kính gởi một thư đến Ông Chủ tịch Nước và Ông Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, đề nghị Nhà nước Việt Nam sớm giải quyết êm đẹp vụ việc của tôi.


Sau khi tôi bị tai biến mạch máu não lần thứ 3 ngày 14-11-2009, tôi lại được biết các vị có thẩm quyền của Bộ Công an đã yêu cầu gia tộc tôi nhanh chóng viết thêm một thư đề nghị gởi đến quý vị ngày 29-11-2009, mong sớm đưa tôi về Nhà Hưu dưỡng Tòa Tổng Giám mục Huế, số 69 Phan Đình Phùng, Huế. Rồi từ đó, gia tộc tôi mới có thể xin phép Tòa Tổng Giám mục Huế đưa tôi đến một bệnh viện thích hợp để điều trị những bệnh chứng tôi đang mắc phải: rối loạn huyết áp, di chứng tai biến mạch máu não gây liệt nửa người bên phải, khối u phía sau chẩm não trái, xơ vữa 2 động mạch cảnh ở cổ tạo nên những đám tụ huyết nhỏ, gây ra các cơn ho đột biến khác thường.


Dù gia tộc tôi đã bức thiết đề nghị rất chính đáng, nhưng quí vị đã thiếu thiện chí đáp ứng. Từ hôm nay, tôi khước từ mọi điều trị của quý vị.


Tôi xin chân thành cảm ơn quý vị.


Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn quý bác sĩ, cán bộ điều dưỡng và y tá của trại giam Nam Hà, Hà Nam và của bệnh viện 19.8 Bộ Công an Hà Nội, đã tận tình điều trị và chăm sóc tôi từ ngày tôi bị tai biến mạch máu não lần thứ 1, 25-5-2009, cho đến nay.


Nguyện xin Thiên Chúa luôn chúc lành cho thiện tâm phục vụ của quý vị.


Kính chúc quý vị một Đại lễ Thiên Chúa Giáng Sinh và một Năm Mới đầy an lành - ân phúc.


Trân trọng kính chào tất cả quý vị.


TNLT Lm NLL (thay thế chữ ký)

Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý

Linh mục Công giáo Tổng Giáo phận Huế.


Vì Linh mục Lý bị liệt tay phải, bức thư này phần lớn được viết bởi anh Nguyễn Công Hoàng. Cha Lý chỉ dùng tay trái để viết được 2 câu: “Dù gia tộc tôi đã bức thiết đề nghị rất chính đáng, nhưng quý vị đã thiếu thiện chí đáp ứng. Từ hôm nay, tôi khước từ sự điều trị của quý vị”, và “Tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý, Linh mục Công giáo Tổng giáo phận Huế”.


Nay thì vị Linh mục bất khuất đã bị đưa trở lại trại giam Ba Sao vào lúc 17g ngày 11-12-2009, đúng thời điểm Nguyễn Minh Triết gặp Đức giáo hoàng tại Rôma, gọi là để tỏ thiện chí với Giáo hội Công giáo hầu thiết lập bang giao giữa Việt Nam-Vatican. Sau khi tiễn chú đến cổng trại giam, anh Nguyễn Văn Hải chỉ còn biết khóc từ biệt, nhìn theo người thân yêu quý đang phải chập chững lê từng bước với sự trợ giúp bắt buộc của cai tù. Sau đó anh ra thị xã Phủ Lý đón xe vào lại Quảng Biên, Đồng Nai.


Xin được nhắc lại: Linh mục Lý vẫn còn bị liệt nửa người, và mỗi lần chỉ có thể đi vài bước ngắn với chiếc nạng 4 chân. Sau cơn tai biến mạch máu não lần thứ hai hôm 14 tháng 11 cho đến hôm 11 tháng 12, ông khó có thể dùng cơm cháo một mình vì cánh tay phải không thể tự điều khiển. Tất cả các bữa ăn đều nhờ thân nhân ngồi cạnh phục vụ bằng cách đút vào miệng. Ông cũng không thể tự chống gậy để đến phòng vệ sinh ngay trong bệnh viện công an. Mọi hoạt động căn bản đều phải tùy thuộc sự giúp đỡ của các người cháu.


Từ tuần trước, tình trạng sức khoẻ của Linh mục Lý trở nên tồi tệ hẳn. Ông thỉnh thoảng lên cơn sốt nóng, rồi sau đó đột ngột cảm lạnh. Ông cố gắng tập luyện thân thể, nhưng những phút luyện tập này càng ngày càng ngắn đi vì những cơn sốt kéo đến thường xuyên hơn. Trí nhớ của ông cũng bị giảm thiểu nhiều.


Nay với cảnh cô đơn trong phòng biệt giam tại Ba Sao, người ta không biết tình trạng sức khỏe của vị linh mục sẽ tồi tệ đến mức nào nữa, nhất là khi ông quyết định từ khước sự điều trị của Cộng sản. Thời gian còn thụ án của của ông là 5 năm nữa. Gia đình đã điện thoại cho trại giam, bảo rằng trại phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự an nguy của cha Lý.


Xin Đồng bào tiếp tục cầu nguyện cho vị tù nhân lương tâm bất khuất được hồi phục sức khỏe thể xác và kiên vững luôn mãi tinh thần, đồng thời chúng ta tiếp tục đấu tranh để CS phải trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý.


Huế ngày 15-12-2009

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406
tường trình từ Huế theo lời kể của thân nhân



Monday, December 14, 2009

 

Kháng thư số 29: Phản đối nhà cầm quyền CSVN thành lập Dân quân Tự vệ biển và tiến hành dự án Điện hạt nhân

KHỐI 8406

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/

Email: vanphong8406@gmail.com

Kháng thư số 29

Phản đối nhà cầm quyền CSVN thành lập

Dân quân Tự vệ biển và tiến hành dự án Điện hạt nhân


Kính gửi: Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước cùng cộng đồng thế giới dân chủ.

Ngày 23-11-2009, bất chấp những phân tích hơn thiệt và sự phản đối kịch liệt của nhiều nhà trí thức trong lẫn ngoài nước, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật về dân quân tự vệ. Theo luật mới này, người dân cả nam lẫn nữ “phải tham gia dân quân tự vệ, các địa phương phải tổ chức lực lượng dân quân, các cơ quan phải tổ chức tự vệ để đóng góp cho nền quốc phòng toàn dân”. Theo báo chí, dự thảo Luật đã được thông qua với 89% số đại biểu tán thành và sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-7-2010. Áp dụng trên lãnh hải, mỗi đội tàu cá sẽ có một tổ vừa đánh cá, vừa thi hành nhiệm vụ của dân quân tự vệ, được gọi là “Dân quân tự vệ biển”. Lực lượng mới này sẽ được trang bị súng ống và sẽ phối hợp với biên phòng, cảnh sát biển lẫn hải quân để gọi là bảo vệ ngư dân và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Hai ngày sau, 25-11-09, mặc dầu đa số thành viên thiếu hiểu biết chuyên môn về nguyên tử học và bất chấp lời cảnh báo của nhiều nhà khoa học lẫn kinh tế học đầy tâm huyết, Quốc hội lại thông qua với 77% phiếu tán đồng một Nghị quyết về điện hạt nhân. Nghị quyết này nêu rõ: sẽ tiến hành Dự án điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận, gồm 2 nhà máy tạo ra năng lượng nguyên tử để bổ sung cho lưới điện quốc gia cùng góp phần phát triển kinh tế xã hội cả nước và toàn tỉnh. Nhà máy số 1 đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, nhà máy số 2 đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, với công suất trên 4.000 MW. Nhà máy số 1 sẽ bắt đầu được xây dựng năm 2014, để tổ máy đầu tiên được vận hành vào năm 2020. Dự toán khởi thủy là 12 tỷ mỹ kim.

Trước hai sự kiện gây xôn xao, lo lắng, thậm chí là thất vọng và phẫn nộ cho cộng đồng người Việt trong lẫn ngoài nước, Khối 8406 chúng tôi nhận định như sau:

I- Về Dân quân Tự vệ biển

1- Bảo vệ tính mạng của nhân dân, cũng như khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển là nghĩa vụ chính của nhà nước và quân đội, Hiến pháp đã quy định như vậy, chứ không phải là nghĩa vụ chính của ngư dân. Người dân đi biển chủ yếu là để mưu sinh chứ không phải để làm những công việc nguy hiểm này thay cho quân đội và nhà nước. Nay Quốc hội CSVN lại chủ trương trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự bảo vệ trong trường hợp bị nước ngoài, cụ thể là Trung Quốc, tấn công trên biển như trong mấy năm gần đây, điều đó có nghĩa là nhà nước lẫn quân đội trốn tránh nghĩa vụ quan trọng của mình, và lấy ngư dân làm bia đỡ đạn.

2- Thành lập Dân quân Tự vệ nói chung, Dân quân Tự vệ biển nói riêng, đồng thời ép buộc ngư dân phải tham gia vào đó để quân đội có thể bất động, không chu toàn trách nhiệm của mình, là vượt quá điều 77 Hiến pháp: “Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”. Tinh thần của điều này là thường dân phải phụ lực với quân đội trong thời chiến, chứ không phải thay thế cho quân đội trong thời bình. Ra một điều luật buộc ngư dân phải chung gánh nặng, thậm chí làm bia đỡ đạn cho quân đội như thế chính là nhục mạ quân đội, khiến mọi người có thể nghĩ rằng nhiệm vụ của quân đội chủ yếu là bảo vệ ách cai trị độc quyền của đảng CS hơn là bảo vệ chủ quyền đất nước và tính mạng nhân dân, theo khẩu hiệu “Trung với đảng (trước), hiếu với dân (sau)”!

3- Dân quân Tự vệ không thể là lực lượng tác chiến hữu hiệu trên biển. Cuộc chiến trên biển khác hẳn cuộc chiến trên đất liền. Chỉ các vũ khí tối tân và hạng nặng như phi cơ, chiến hạm, hỏa tiễn mới có khả năng bảo vệ lãnh hải. Giao cho ngư dân nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển trong khi nhà nước và quân đội lại thụ động trước sự tấn công tàn bạo của ngoại bang -như vô số bằng chứng trong mấy năm qua- chính là khiến ngoại bang có cớ tàn sát ngư dân dễ dàng và chính là đẩy thường dân vào chỗ chết thay cho quân đội.

4- Dân quân Tự vệ biển rất dễ trở thành “ngòi nổ” cho chiến tranh xâm lược lãnh thổ Việt Nam. Bởi lẽ là lực lượng vũ trang không chuyên, chẳng được huấn luyện bài bản, thiếu phương tiện và sự chỉ huy thống nhất như lực lượng vũ trang chính quy, họ có thể bắn nhầm thường dân nước ngoài hoặc nổ súng không cần thiết khi bị khiêu khích, và như vậy dễ dàng tạo cớ cho ngoại bang đánh trả hay xâm lược.

II- Về điện hạt nhân

1- Điện cần thiết cho phát triển kinh tế, nhưng việc sản xuất điện mất nhiều tiền bạc và thời gian. Vì thế, việc khảo sát và đề xuất cách sản xuất điện là chuyện quan trọng. Chi phí đầu tư ban đầu cho điện hạt nhân lại rất đắt đỏ, gấp ba bốn lần các loại điện đang được làm ra tại Việt Nam. Thế mà đang khi ngân sách dự trữ quốc gia chỉ có 22 tỷ đôla (lời một đại biểu Quốc hội), thì dự án hạt nhân trong giai đoạn đầu đã ngốn đến 12 tỷ, và có thể tăng lên gấp đôi, gấp ba chỉ sau vài năm. Và rồi 10, 15 năm nữa chưa chắc đã có điện dùng (theo lời các chuyên gia).

2- Kỹ thuật điện hạt nhân lại rất tinh vi, đòi hỏi nhiều thiết bị đắt tiền, nhân sự có trình độ chuyên môn cao, thời gian đào tạo lâu dài; rủi ro về kiện cáo với các công ty ngoại quốc cung cấp 100% thiết bị lại rất lớn. Thế mà ở khởi điểm này, Việt Nam vẫn thiếu chuyên gia, và trong thời gian mười năm tới, lúc tổ máy đầu tiên vận hành, vẫn khó có thể đào tạo đầy đủ nhân sự. Lâm vào kiện cáo với các công ty (như đang thấy hiện nay tại Phần Lan, Hoa Kỳ…) thì buộc phải ra tòa án quốc tế và chi phí kiện tụng lại là một gánh nặng thêm cho ngân sách quốc gia vốn đã eo hẹp.

3- Ngoài ra, nguy cơ về sinh thái (rò rỉ phóng xạ và vương vãi chất thải nguyên tử) không phải là nhỏ. Với thói vô trách nhiệm thâm căn cố đế thường thấy trong các chế độ CS nói chung và tại Việt Nam nói riêng (bao nhiêu dòng sông lớn trong nước đang chết dần vì ô nhiễm do các nhà máy là một trong muôn vàn thí dụ), thì một Tchernobyl thứ hai tại Việt Nam là điều rất có thể xảy ra, một khi các nhà máy ĐHN tại Ninh Thuận đi vào hoạt động. Lúc ấy thì quả là một tai họa khôn lường cho nhân dân và đất nước!

Chính vì thế, Khối 8406 chúng tôi tuyên bố:

1- Tương quan lực lượng và diễn tiến xung đột khu vực Biển Đông hiện thời, cụ thể là với bá quyền Trung Cộng, cho thấy Việt Nam đang ở vào một thời điểm phải đầu tư thích đáng để xây dựng lực lượng hải quân chính quy, hiện đại chứ không phải là lực lượng dân quân tự vệ biển. Thế mà cho tới nay, lực lượng hải quân Việt Nam lại rất mỏng và rất thiếu sức chiến đấu.

2- Muốn tăng cường bảo vệ ngư dân, cách đúng đắn nhất là nhà cầm quyền CSVN nên điều tàu vũ trang của quân đội và cảnh sát biển tới ngay hiện trường; đồng thời phải lên tiếng phản đối hành động của các quốc gia gây hấn trong thời gian nhanh nhất qua con đường ngoại giao chính thức; kiện họ ra Tòa án quốc tế khi có đủ cơ sở pháp lý… Thế mà cho tới nay, ngư dân lâm nguy luôn bị bỏ mặc và phản ứng ngoại giao của Việt Nam là hết sức yếu ớt và chậm chạp. Vì vậy, nó không có tác dụng ngăn chặn tội ác mà ngược lại, khuyến khích cho tội ác liên tục hoành hành.

3- Từ bao năm nay, Nhà cầm quyền Việt Nam một mặt luôn giữ thái độ nể sợ, không dám đương đầu với Trung Cộng trong các vụ xung đột trên Biển Đông, không nhanh nhạy cứu giúp và bênh vực ngư dân bị cấm cản, hành hung, cướp bóc và tàn sát. Mặt khác, nhà cầm quyền lại luôn tìm cách lấp liếm che đậy những nhượng bộ cho lân bang về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và về vịnh Bắc Bộ, tìm cách bịt miệng, trấn áp, cầm tù những công dân lên tiếng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông.

4- Đưa ra luật về dân quân tự vệ, ngoài mục đích dùng ngư dân thế mạng và tránh đương đầu với Trung Quốc trên biển cả, nhà cầm quyền CSVN còn nhắm kiểm soát nhân dân trên đất liền chặt chẽ hơn bằng cách đoàn ngũ hóa họ với kiểu cách và luật lệ quân sự, hầu đề phòng một cuộc nổi dậy của toàn dân nhằm giải thể cái chế độ đầy thối nát, tham nhũng và bất công do đảng CS đang thực hiện và bảo vệ.

5- Bằng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, nhà cầm quyền CSVN -với những nhân vật lãnh đạo vừa mù tịt lãnh vực nguyên tử vừa kiêu căng duy ý chí- đang đẩy đất nước vốn đã nghèo đói và trì trệ, vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm trên lãnh vực kinh tế, tài chánh, pháp lý, môi trường và an ninh, cốt để giành danh tiếng hão “cường quốc điện hạt nhân” hay để tạo thế liên hoàn “hạt nhân Ninh Thuận - bauxite Tây Nguyên” hầu phục vụ cho ý đồ xâm lăng của quan thầy Trung Cộng. Ðang khi chuyện quan trọng hơn bây giờ là làm sao xóa đói giảm nghèo, cứu trợ nạn nhân thiên tai lũ lụt, xây nhà thương cho bệnh nhân, lập trường học cho các thế hệ trẻ… thì họ lại chỉ làm qua quýt cho xong, nhằm hóa giải sự phẫn nộ của nhân dân đang ngày càng dâng tràn và tiếp tục lừa bịp thế giới.

6- Quốc hội nước CHXHCNVN lại một lần nữa chứng tỏ mình là gia nô cho đảng CS thay vì là tiếng nói và công bộc cho nhân dân. Sau sự im lặng tán đồng việc Bộ Công thương lập “Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bauxite Tây Nguyên” hôm 30-10-2009, thì nay cơ quan này đã vội chấp nhận Dự luật Dân quân tự vệ nói chung và Dân quân tự vệ biển nói riêng mà không thấy được âm mưu khống chế nhân dân hơn nữa của đảng CS và không lường được những nguy hiểm chết người cho ngư dân. Ngoài ra, với hiểu biết non kém về kỹ thuật phức tạp của điện hạt nhân, với việc thảo luận và phản biện qua loa chiếu lệ, với thái độ phớt lờ những góp ý xây dựng chân tình của bao nhà trí thức, Quốc hội cũng đã vội vàng tuân lệnh đảng mà thông qua một dự án hết sức quan trọng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ lẫn thách thức cho đất nước. Vì quyền lợi của dân tộc, vì tương lai của giống nòi, Khối 8406 chúng tôi cực lực phản đối cả hai Quyết định đầy nguy hiểm này!

7- Cung cách ra quyết định của cái gọi là “Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam” về việc thành lập lực lượng Dân quân tự vệ biển và tiến hành triển khai dự án Điện hạt nhân nói trên vẫn không gì khác hơn là cung cách ra quyết định thường thấy trong bất cứ chế độ độc tài toàn trị nào khắp thế giới. Hoàn toàn làm theo chiếc gậy chỉ huy tối cao của Bộ chính trị đảng CS, họ không xứng đáng là đại diện cho dân tộc Việt Nam! Thực tế của hơn 64 năm qua, kể từ ngày 2-9-1945 cho đến nay, chứng minh rõ ràng rằng mọi thế hệ lãnh đạo trong Đảng CSVN đã luôn vì đặc quyền đặc lợi của tập đoàn mình mà chà đạp một cách lạnh lùng và tàn bạo mọi quyền lợi của quốc gia dân tộc!

8- Con đường duy nhất đúng đắn để dân tộc Việt Nam hôm nay có thể thóat ra khỏi những bất công, đói nghèo, tụt hậu, khỏi nguy cơ mất nước một lần nữa, là phải dũng cảm vượt qua nỗi sợ để cùng đòan kết bước vào một cuộc chiến đấu mới. Đó là chiến đấu giành lấy những giá trị tự do thiêng liêng từ tay chế độ độc tài tòan trị, phản dân tộc và phi dân chủ hiện nay. Mục tiêu của cuộc chiến đấu này là thay thế triệt để chế độ bất lương ấy bằng một chế độ xã hội đa nguyên, với một chính trường đa đảng. Phương pháp để thực hiện mục tiêu đó là hòa bình, bất bạo động! Và sự nghiệp chính nghĩa đó là của tòan dân tộc, chứ không phải của riêng một tổ chức, đảng phái hay cá nhân nào!

Ngày Nhân quyền Quốc tế 10-12-2009

Ban Đại diện Lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.
3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại.
Trong sự hiệp thông với Lm Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.


Tuesday, October 13, 2009

 

Kháng thư số 28: Phản đối nhà cầm quyền CSVN xử tù các nhà dân chủ và tiếp tục đàn áp các tôn giáo

KHỐI 8406
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006

Web: http://khoi8406vn.blogspot.com/
Email: vanphong8406@gmail.com



Kháng thư số 28

Phản đối nhà cầm quyền CSVN xử tù các nhà dân chủ
và tiếp tục đàn áp các tôn giáo


Kính gửi: Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước cùng cộng đồng thế giới dân chủ.

Trong thời gian chuẩn bị đảm nhận chức vụ Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lần 2 và sau khi đảm nhận chức vụ ấy vào tháng 10-2009, với cuộc họp đầu tiên mang chủ đề “Phụ nữ, hòa bình và an ninh”, nhà cầm quyền CSVN đã chứng tỏ mình có một quan niệm về hòa bình và an ninh khác hẳn thế giới, thách thức công luận qua những việc sau đây:

1- Đối với các tôn giáo

- Ngày 14-09-2009, lợi dụng lúc hai vị Giám mục cai quản Tổng giáo phận Công giáo Huế ra hải ngoại công tác, toàn bộ lãnh đạo chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc, thị trấn Lăng Cô đã huy động lực lượng công an, cảnh sát, dân quân, “quần chúng tự phát”, thầy cô trường Tiểu học Lăng Cô, với số lượng khoảng 1500 người và trang bị phương tiện hiện đại, đến bao vây giáo xứ Loan Lý thuộc huyện Phú Lộc, trấn áp gần 800 giáo dân, để cướp trắng ngôi trường của họ rồi vội vã xây tường bao quanh hầu chiếm đoạt vĩnh viễn.

- Ngày 27-09-2009, nhà cầm quyền Cộng sản tỉnh Lâm Đồng, thị xã Bảo Lộc đã huy động lực lượng công an, dân quân, côn đồ và nhiều thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam công cụ, con số lên tới cả ngàn người, đến bao vây tu viện Bát Nhã tọa lạc tại thôn 13, xã Đamb’ri, thị xã Bảo Lộc để đập phá cơ sở, hành hung tăng ni, bắt bớ sư trưởng, trục xuất 400 tu sinh nam nữ, đa phần trẻ tuổi, ra khỏi tu viện này ngay dưới cơn mưa. Dù được sư trụ trì chùa Phước Huệ gần đó cho tạm trú, số tăng sinh này vẫn bị nhà cầm quyền tiếp tục sách nhiễu, ép buộc hoàn tục hay trở về quê quán.

- Ngày 28-09-2009, lúc gần 17 giờ, lợi dụng cơn bão số 9 (Ketsana) đang thổi vào Quảng Nam, Ủy ban Nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đã huy động hàng trăm công an chận tất cả con đường quốc lộ dẫn vào nhà thờ của một Giáo xứ Công giáo tọa lạc tại An Hải Tây, Sơn Trà, Đà Nẵng, cho hai xe ủi múc xông vào tận khuôn viên Giáo xứ ủi sập trường Khiết Tâm, một trường học hai tầng mà sau năm 1975 Giáo xứ đã cho nhà cầm quyền mượn tạm làm cơ sở giáo dục. Đến trưa hôm sau, 29-09, khi cơn bão đã suy yếu, giáo dân tràn được vào khuôn viên nhà thờ, thì lực lượng phá hoại mới rút lui, nhưng ngôi trường Khiết Tâm hầu như đã trở thành bình địa.

2- Đối với phong trào Dân chủ

- Dù đảng CSVN đã ra Nghị quyết số 27-NQ/TW (ngày 6-8-2008), về xây dựng đội ngũ trí thức với những lời lẽ “Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội… để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức”. Thế nhưng, ngày 24-07-2009 vừa qua, Thủ tướng CS lại ban hành Quyết định 97 (hiệu lực kể từ 15-09), xác định những lĩnh vực mà tư nhân được tham gia thành lập các tổ chức khoa học công nghệ, đồng thời ghi rõ «Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cần phải gởi ý kiến phản biện đó cho các cơ quan Đảng và Nhà nước có thẩm quyền, chứ không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học công nghệ». Đây là hành vi ngang nhiên bịt miệng giới trí thức nói riêng và tất cả những ai trong xã hội nói chung dám lên tiếng phê bình chủ trương chính sách của đảng CS. Điều này đã khiến Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS, cơ quan nghiên cứu chính sách độc lập đầu tiên ở Việt Nam với phương châm «Nghiên cứu-Phản biện-Phát triển») đã ra Tuyên bố ngày 14-09-2009, lên án văn bản phi pháp, độc đoán này, rồi quyết định «tự giải thể để biểu thị thái độ».

- Trong các ngày 6, 7, 8 và 9-10-2009, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã dựng lên hai phiên tòa tại Hà Nội và một phiên tòa tại Hải Phòng để xử án 9 nhà đấu tranh dân chủ, với nhiều biện pháp vô luật, man rợ như hăm dọa gia đình các bị can trước ngày xử; cấm cản hoặc hạn chế tối đa sự có mặt của thân nhân, báo giới, công chúng trong ngày mở phiên tòa; không cho có luật sư bào chữa, hoặc kết án bị can bất chấp lời bào chữa hợp lý của luật sư; xét xử vội vàng và kết án mau lẹ; ngăn cản báo giới quốc tế phỏng vấn thân nhân các bị can sau phiên tòa; thông tin xuyên tạc trên báo chí về toàn bộ vụ việc…. Tất cả nhằm kết án 9 nhà dân chủ yêu nước, thành viên Khối 8406, đã bị bắt từ tháng 9-2008, quy chụp họ vi phạm điều 88 Bộ luật Hình sự (“Tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa”) chỉ vì họ đã lên tiếng qua đài, viết bài đăng mạng và có những hành động công khai như rải truyền đơn, giăng biểu ngữ nhằm tố cáo sai lầm và tội ác của đảng và nhà cầm quyền CSVN, đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho mọi công dân và kêu gọi toàn dân Việt Nam cùng nhau bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lăng của Trung Cộng.

- 9 nhà dân chủ đã bị kết án tổng cộng 59 năm giam cầm (32 năm tù giam và 27 năm quản chế), với chi tiết như sau: 1- Nhà thơ Trần Đức Thạch: 3 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 06-10-2009). 2- Nhà giáo Vũ Hùng: 3 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 07-10-2009). 3- Kỹ sư Phạm Văn Trội: 4 năm tù và 4 năm quản chế (xử ngày 08-10-2009). 4- Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa: 6 năm tù và 3 năm quản chế (xử ngày 09-10-2009 cùng với 5 người sau). 5- Sinh Viên Ngô Quỳnh: 3 năm tù và 3 năm quản chế. 6- Chiến sĩ dân chủ Nguyễn Văn Tính: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế. 7- Dân oan Nguyễn Văn Túc: 4 năm tù và 3 năm quản chế. 8- Dân oan Nguyễn Kim Nhàn bị kết án 2 năm tù và 2 năm quản chế. 9- Cựu đảng viên Nguyễn Mạnh Sơn: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.

Trước những vụ xâm phạm nhân quyền trắng trợn và trầm trọng nói trên, Khối 8406 tuyên bố:

1- Cực lực phản đối việc đàn áp tôn giáo, nhất là những vụ cướp đất đai và cơ sở thuộc quyền sở hữu chính đáng của các Giáo hội. Những lý cớ dùng để cướp đoạt hay đàn áp như vì phục vụ cộng đồng địa phương (vụ Loan Lý ở Thừa Thiên), vì quy hoạch đô thị (vụ An Hải ở Đà Nẵng) hay vì xung đột nội bộ (vụ Bát Nhã ở Lâm Đồng) là hoàn toàn phi lý, vô luật, không thể chấp nhận được.

2- Cực lực phản đối Quyết định 97 là công cụ mới để nhà cầm quyền CSVN bịt miệng các tiếng nói xây dựng và yêu nước, đặc biệt từ giới trí thức, cũng như phản đối các phiên tòa man rợ xét xử 9 nhà dân chủ nói trên và các bản án bất công gán cho họ. Đây không chỉ là đòn trấn áp những người Việt Nam yêu nước, trò hăm dọa toàn dân đòi hỏi tự do, mà còn là phản ảnh bản chất phản dân chủ và phản dân tộc của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

3- Nhiệt liệt khen ngợi khí phách anh hùng và sự trung thành với lý tưởng đấu tranh của 9 nhà dân chủ. Tất cả đã không đầu hàng, không nhượng bộ, không nhận tội, luôn luôn khẳng định các việc làm của mình là hoàn toàn chính đáng, vì nước vì dân. Đây là niềm hãnh diện của phong trào Dân chủ nói chung và của Khối 8406 nói riêng. Ngoài ra, chúng tôi xin hết lòng khen ngợi các luật sư đã đứng trên quan điểm nhân quyền để biện hộ, bất chấp sự khó dễ sau này của nhà cầm quyền; cũng xin khen ngợi thân nhân, đặc biệt những bà vợ của các vị tù nhân lương tâm, đã tỏ ra can đảm, một lòng một dạ với chồng từ những ngày đầu đấu tranh cho đến tận trong tòa án.

4- Chân thành cảm ơn sự lên tiếng hỗ trợ các nhà dân chủ của Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, của nhiều chính đảng, tổ chức và cơ quan ngôn luận quốc nội lẫn hải ngoại, của nhiều chính khách từ Mỹ châu, sang Âu châu đến Úc châu, của nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới ngay từ trước, trong và sau vụ xử.

5- Thiết tha kêu gọi Đồng bào trong lẫn ngoài nước và Cộng đồng thế giới dân chủ tiếp tục hỗ trợ cuộc tranh đấu tại Việt Nam, bằng cách đòi hỏi CS từ bỏ chính sách đàn áp các tôn giáo và các nhà đối kháng, trả tự do cho các tù nhân lương tâm, bằng cách dùng các áp lực đủ loại để buộc nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng các nhân quyền đã được minh định trong các Tuyên ngôn và Công ước quốc tế, bằng cách giúp đỡ cho gia đình các tù nhân lương tâm vốn cùng gánh chịu sự trả thù của CS.

Ngày 12-10-2009

Ban Đại diện Lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.
3. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận động dân chủ tại hải ngoại.
Trong sự hiệp thông với Lm Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

Monday, October 12, 2009

 

Lần giở hồ sơ Nhà sinh hoạt-Trường giáo lý Giáo xứ Loan Lý

Giáo xứ Loan Lý, Tổng Giáo phận Huế
Lần giở hồ sơ Nhà sinh hoạt-Trường giáo lý

Bản tin ngày 10-10-2009

Đơn gởi Ủy ban Nhân dân và Ủy ban Mặt trận Thị trấn Lăng Cô (31-08-2009) khẳng định chủ quyền của Giáo xứ trên Nhà sinh hoạt, và đề nghị nhà cầm quyền ngưng việc tự tiện sửa chữa Nhà sinh hoạt này


Thư gởi Ban Giám hiệu trường Tiểu học Lăng Cô (05-09-2009) về việc cùng chung sử dụng Nhà sinh hoạt của Giáo xứ


Bị cướp trường rồi, từ nay phải học giáo lý ngoài sân các em ơi !!! (20-09-2009)

Giấy mời của Ủy ban Nhân dân thị trấn Lăng Cô (08-09-2009) gởi Giáo xứ để bàn về việc Giáo xứ ngăn cản nhà cầm quyền tự tiện sửa chữa Nhà sinh hoạt

Đơn đề nghị lần 2 (10-09-2009) : tái khẳng định chủ quyền của Giáo xứ trên Nhà sinh hoạt, yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền sinh hoạt tôn giáo và ngưng sửa chữa Nhà sinh hoạt


Công văn của UB Nhân dân thị trấn Lăng Cô (09-09-2009) vu cáo Giáo dân Loan Lý và phủ nhận quyền sở hữu của Giáo xứ đối với Nhà sinh hoạt


Công văn của UB Nhân dân thị trấn Lăng Cô (12-09-2009) bác bỏ “Đơn đề nghị của Giáo xứ về để nghị ngưng sửa chữa nhà sinh hoạt” và không chấp nhận việc Khai giảng niên khóa Giáo lý 2009-2010.







This page is powered by Blogger. Isn't yours?